Thành lập ngày 31-1-2002 theo Nghị định số 14/2002/NĐ-CP của Chính phủ trên cơ sở chia tách huyện Kon Plông (cũ) thành hai huyện Kon Plông (mới) và huyện Kon Rẫy, huyện mới Kon Plông còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nhưng trong"cái khó" đã "ló cái khôn", vùng đất giàu tài nguyên thiên nhiên, đa dạng về văn hoá đang từng bước được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Konplông "đánh thức", khai phá khoa học và hiệu quả.
Kon Plông qua các thời kỳ Huyện Kon Plông có lịch sử lâu đời, đã nhiều lần chia tách và sáp nhập với nhiều tên gọi khác nhau, gắn liền với lịch sử Tây Nguyên và lịch sử dân tộc. Huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Kon Tum, có vị trí chiến lược quan trọng đối với Kon Tum và Tây Nguyên; nhân dân trong huyện gồm 4 dân tộc chủ yếu: Xê Đăng, M’Nâm, K’Dong, H’re và một số dân tộc khác sống chan hòa với nhau trong một cộng đồng; có truyền thống nồng nàn yêu nước, yêu quê hương, đoàn kết, thật thà, cần cù lao động, có tinh thần anh dũng bất khuất trong chiến đấu chống mọi kẻ thù xâm lược. Từ năm 1867 thực dân Pháp đã dùng bạo lực vũ trang để chiếm đóng, thống trị tỉnh Kon Tum, trong đó có huyện Kon Plông, với những chính sách áp bức, bóc lột ngày một nặng nề. Người dân sống trong cảnh mất nước, mất độc lập, tự do, mất rừng, nguồn suối, đói cơm, rách áo, đồng bào bị chết dần vì bị đàn áp, khủng bố. Trước tình hình đó, cùng với nhân dân cả nước, đồng bào các dân tộc huyện Kon Plông đã đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp. Trước Cách mạng tháng Tám, dù chưa có tổ chức Đảng, chưa có các đoàn thể cứu quốc trong Mặt Trận Việt Minh, nhưng với tinh thần yêu nước, cùng với sự tác động của phong trào cách mạng trong cùng và sự hỗ trợ của Đảng bộ và nhân dân Ba Tơ (Quãng Ngãi), đồng bào Kon Plông giành được chính quyền cách mạng đầu tiên ở Kon Tum. Giữa năm 1946, thực dân Pháp trở lại xâm lược tỉnh Kon Tum, lập lại bộ máy cai trị trong toàn tỉnh, trong đó có huyện Kon Plông. Hội Nghị liên khu ủy và Chính ủy Liên khu V lần thứ I (tháng 01/1949) phát động phong trào xây dựng Đảng, đưa quân từ đồng bằng, Ba Tơ – Quãng Ngãi lên để chống địch càn quét, lấn chiếm; vận động tuyên truyền giác ngộ quần chúng. Cuối năm 1949 chi bộ xã Hiếu được thành lập đầu tiên ở Kon Plông và sau đó có nhiều chi bộ được thành lập. Đến năm 1950 Đảng bộ huyện Kon Plông chính thức được thành lập đã lãnh đạo quân và dân huyện Kon Plông kháng chiến chống Pháp, với chủ trương "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng". Đảng lãnh đạo nhân dân gia tăng sản xuất, thực hành tiết kiệm; trong quân đội xây dựng lực lượng các thứ quân; hướng dẫn nhân dân phòng gian bảo mật; thực hiện "3 không" - không nghe, không thấy, không biết và "3 phòng"- phòng gian, phòng gián điệp, phòng tai nạn. Năm 1952, Kon Plông được tách thành 2 huyện Kon Plông Bắc (H29) và Kon Plông Nam (H16). Cũng trong năm này, quân và dân huyện Kon Plông, huyện Ba Tơ đã phối hợp cùng Trung đoàn 108, Trung đoàn 803 và Lực lượng vũ trang Mặt trận miền Tây bẽ gãy cuộc hành quân Laterit giải phóng một vùng rộng lớn từ sông Hre đến huyện Kon Plông. Chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954, quân dân huyện Kon Plông đã phối hợp với bộ đội chủ lực (Trung đoàn 108 và 803) tiêu diệt cứ điểm Măng Đen, Măng Buk; chiến thắng này có ý nghĩa rất quan trọng góp phần quyết định vào thắng lợi của chiến dịch Bắc Tây Nguyên, tạo cơ hội tiến lên giải phóng Kon Plông, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum và Bắc Tây Nguyên. Đến tháng 2/1954, Kon Tum là tỉnh đầu tiên và duy nhất ở Bắc Tây Nguyên được hoàn toàn giải phóng. Cuối năm 1956 Tỉnh ủy Kon Tum tổ chức phân vùng hoạt động lại các huyện và đặt mật danh mới cho tiện việc chỉ đạo. Huyện Kon Plông được chia thành 2 huyện H16 (huyện Kon Rẫy) và H29 (huyện Kon Plông), đây là căn cứ kháng chiến của tỉnh Kon Tum trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Ngụy. Tháng 9/1954, Mỹ - Diệm bắt đầu tiếp quản Kon Tum; vì lợi ích chung của cả nước ta phải chuyển giao chính quyền địa phương cho đối phương. Chúng đưa lính ngụy vào đóng tại các đồn Măng Đen, Kon Plông, Măng Bút và các căn cứ quan trọng khác của tỉnh. Từ giữa năm 1959 Mỹ - Diệm bắt đầu tập trung lực lượng đánh phá cách mạng các tỉnh Tây Nguyên, ở huyện Kon Plông chúng tăng cường vũ khí và binh lính ngày càng nhiều vào các đồn Măng Đen, Măng Bút, Kon Plông... Với ý chí gang thép, tinh thần đấu tranh quật cường, bất khuất Đảng bộ và nhân dân hai huyện H16 và H29 đã hăng say lao động sản xuất, đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến. Cuối tháng 10/1974 với chiến thắng Măng Đen, Măng Bút vang dội hai huyện H16 và H29 hoàn toàn được giải phóng (30/10/1974), tạo thế và lực mới cùng quân và dân trong tỉnh tiến lên giải phóng tỉnh Kon Tum (16/3/1975), góp sức cùng quân dân cả nước giải phóng Tây Nguyên, mở đường giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước. Sau đại thắng mùa xuân 1975, Đảng bộ và nhân dân 2 huyện H16 và H29 nhanh chóng ổn định chính trị, xây dựng chính quyền, khôi phục phát triển kinh tế, chăm lo đời sống mọi mặt cho nhân dân. Tháng 2/1976, Tỉnh ủy lâm thời Gia Lai – Kon Tum ra quyết định sáp nhập các huyện H16, H29 và H1 (thuộc tỉnh Gia Lai cũ) thành một huyện lấy tên Kon Plông thân thuộc từ xưa. Sau giải phóng 1975, Đảng bộ huyện xác định phương hướng đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa đó là: "đẩy mạnh khai hoang, phục hóa, xây dựng cánh đồng, làm thủy lợi gắn liền với định cư trên cơ sở định canh vững chắc; đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, phát triển khoa học kỹ thuật thâm canh, tăng vụ đi đôi với xây dựng hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sự nghiệp văn hóa, y tế, giáo dục, xây dựng nông thôn mới và con người mới xã hội chủ nghĩa nhằm tạo nhanh cơ sở vật chất, kỹ thuật, nâng cao đời sống nhân dân", đảm bảo đẩy mạnh ổn định tình hình, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Từ năm 1986, dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộ huyện Kon Plông đã nhanh chóng đổi mới tư duy, vận dụng sáng tạo chủ trương đường lối của Đảng vào thực tiễn địa phương, lãnh đạo nhân dân từng bước khắc phục khó khăn, đưa kinh tế - xã hội dần vào thế ổn định và phát triển; an ninh, chính trị được giữ vững, Đảng bộ đã lãnh đạo các lực lượng vũ trang, bán vũ trang và nhân dân truy quét, ngăn chặn có hiệu quả hoạt động gây rối, phá hoại của Fulro và bọn phản động khác; từng bước xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Tháng 1/2002 huyện Kon Plong được thành lập lại theo Nghị định n14/2000/NĐ-CP ngày 31-1-2002 của Chính phủ trên cơ sở chia tách huyện Kon Plông (cũ) thành hai huyện Kon Plông (mới) và huyện Kon Rẫy. Từ năm tái lập năm 2002 đến nay (2012), với sự quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực; đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt, đảm bảo tốt các vấn đề an sinh xã hội, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, an ninh chính trị luôn ổn định và giữ vững; mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ngày càng thắt chặt, củng cố và phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng dần qua các năm từ 9,5% (2001) lên 22,60% (2010). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông - lâm nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt gần 5,2 triệu đồng/người/năm (tăng hơn 3,3 triệu đồng so với năm 2001). Nhiều công trình trọng điểm cấp tỉnh, cấp quốc gia được triển khai xây dựng trên địa bàn huyện như: Thủy điện Thượng Kon Tum, Thủy điện Đăk Hrinh, Đăk Pô Ne, đường Trường sơn Đông, đường Ngọc Hoàng, Măng Bút – Tu Mơ Rông, nâng cấp mở rộng quốc lộ 24... đã tạo cơ hội cho huyện Kon Plông phát triển kinh tế - xã hội, dịch vụ du lịch trong tương lai. Đặc biệt, khu du lịch sinh thái Măng Đen không những được chính phủ bổ sung vào quy hoạch du lịch sinh thái quốc gia, Kon Plông còn được Đảng bộ tỉnh, UBND tỉnh Kon Tum xác định là 1 trong 3 vùng kinh tế động lực của tỉnh. Tên gọi Măng Đen
Hồ Đăk Ke - Ảnh: Sưu tầm
Măng Đen là tên một địa danh mà người kinh đọc chệch ra từ tên địa danh T’Măng Deeng của người M’Nâm. Tiếng M’Nâm T’Măng có nghĩa là: ở nơi hoặc vùng; Deeng có nghĩa là bằng phẳng và rộng lớn. Vậy T’Măng Deeng dịch ra tiếng kinh có nghĩa là ở nơi bằng phẳng, rộng lớn (bãi bằng). T’Măng Deeng có từ rất lâu đời, gắn với truyền thuyết huyền thoại của dân tộc M’Nâm.
Truyền thuyết của người M’Nâm kể rằng từ xa xưa lắm, ở đây phong cảnh đẹp như T’Măng Deeng (có nghĩa là đẹp như một vùng phong cảnh rộng lớn ở trên trời – tiếng M’Nâm Yeeng có nghĩa là trời trên khoảng đất rất rộng, cỏ hoa chen nhau đua nở, từng đàn ong bướm dập dìu bay lượn, cạnh đó là một con sông lớn, nước trong vắt uốn lượn theo những cánh rừng già, qua những đoạn dốc ghềnh, thác nước đổ xuống va vào vách đá tạo nên những âm thanh trầm hùng, thú ở trong rừng nhiều vô kể, hươu nai, lợn rừng, voi, hổ, chồn... sống với nhau rất hòa thuận, thế nhưng từ trên cao Plinh huynh nhìn xuống (Plinh huynh là vị thần cao nhất, có quyền lực nhất ở trên trời mà ta thường gọi là Ngọc Hoàng) Plinh huynh cảm thấy rất buồn bã và vắng lạng. Không hiểu nguyên cớ gì, suy nghĩ mãi Plinh huynh mới nhận ra một điều là ở đây thiếu con người – không có con người sinh sống. Chẳng lé ở một vùng đất bằng phẳng, rộng rãi và trù phú như thế này mà không có người ở. Suy nghĩ mãi Plinh huynh bèn quyết định cho 7 người con trai trong số rất nhiều người con của ông xuống vùng này ở lập làng và sinh sống, 7 người con trai đó tên là : Gu Kăng Đam, Gu Kăng Rpong, Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, Gu KăngSăng, Gu Kăng Lung và Gu Kăng Pô. Mỗi chàng trai được Plinh huynh bắt cho một cô gái ở vùng khác về làm vợ, 7 cặp vợ chồng ấy lập 7 làng vùng quanh làng T’Măng Deeng và Plinh huynh quy định mỗi cặp vợ chồng chỉ được sinh đẻ một lần với 10 con trai và 10 con gái. Sau đó mỗi người chồng được phong làm vị thần cai quản vùng đất đó gọi là Huynh, còn người vợ phải biến thành những con vật như heo, nai, cá, thằn lằn. Nhưng không phải là những con vật thường mà chúng là những con heo thần, nai thần, cá thần, thằn lằn thần để chăn dắt các loài đó.
Theo truyền thuyết thì vợ của Gu Kăng Đam và Gu Kăng Rpong biến thành heo thần gọi là Chu huynh, vợ của Gu Kăng Zơ Ri, Gu Kăng Ziu, Gu KăngSăng biến thành nai gọi là zoi huynh, vợ của Gu Kăng Pô biến thành thằn lằn gọi là Pô huynh, vợ của Gu Kăng Lung biến thành cá gọi là Ca Huynh. Và theo quy định của Plinh huynh thì các vị Huynh cai quản các vùng đó phải kiêng ăn thịt của các loài vật cùng loài với vợ mình làm thần.
Cảnh vật thiên nhiên tươi đẹp, đất đai trù phú cộng thêm với khí hậu ôn hòa mát mẻ nên từ đó đời sống của người dân 7 làng trong vùng T’Măng Deeng này rất sung túc. 7 vị thần cai quản ở đây thương dân hết mức, chăm sóc cuộc sống cho nhân dân, các Huynh dạy dân làm rẫy, làm nhà, dạy dân dệt vải, đàn ông săn bắn, dạy những người già kể chuyện cổ tích, truyền thuyết về làng mình, dân tộc mình, Huynh còn dạy cho con trai, con gái đánh cồng chiêng múa hát, những bài hát ca ngợi tình yêu, ca ngợi sự trường tồn của dân tộc họ... còn người dân ở trong mỗi làng cũng như các làng khác trong vùng T’Măng Deeng này học rất mức thương yêu quý trọng nhau đoàn kết bên nhau làm ăn sinh sống. Vì họ hiểu rằng tất cả họ đều là anh em ruột thịt, đều là con cháu của Plinh huynh.
Cuộc sống ấm no của họ cứ trôi đi năm này sang năm khác, đời này qua đời khác. Những đứa trẻ lớn lên trai thì vào rừng săn bắn, gái thì gùi nước nấu ăn hoặc lên nương trồng bông dệt vải. Cứ thế người già chết đi người trẻ thì lấy nhau sinh con đẻ cái. Duy chỉ có các vị thần là không chết. Họ sống mãi với bổn phận là chăn dắt dân. Thời gian đầu mỗi năm một lần họ về trời để hội tụ và báo với Plinh Huynh công việc của họ ở trần gian, cũng như đời sống của người trần gian vùng họ cai quản. Thế nhưng cuộc sống ở trẩn gian làm say mê hấp dẫn họ, vả lại con người phát triển ngày càng nhiều nên họ phải thường xuyên đi đây đó chăn dắt giúp đỡ dân và họ không về trời nữa. Tuy vậy, mỗi năm lúa của dân đã về đầy kho, heo gà đầy sân, thịt thú rừng cũng như cá ở suối được sấy khô gác đầy chạn bếp, trâu, bò, dê thả trong rừng đều béo mạp. Luc đó các huynh dạy dân làm lễ ăn trâu cúng Yeeng (mà nay ta gọi là ăn trâu mừng năm mới).
Trong lễ ăn trâu đó người dân mặc những bộ đồ đẹp nhất họ uống rượu và ăn uống thỏa thích, họ ca hát nhảy múa từ đêm này sang đêm khác.
Theo sự hướng dẫn của Huynh, trong mỗi cuộc ăn trâu cúng Yeeng nhất thiết đồng bào phải xây dựng cây nêu, cây gâng. Cây nêu càng cao càng tốt, với 4 cọc gâng dựng xung quanh, họ phải trang trí cây nêu cũng như cây gâng thật đep và sặc sỡ, trên cọc gâng và cây nêu họ vẽ hình trang trí thể hiện cuộc sống xung quanh họ, hình núi non, sông nước và trên là hình mặt trời. Để thông qua cây nêu (tượng trưng cho đường lên trời) các Huynh cai quản dân, báo với Plinh huynh cuộc sống ở dưới trần gian về đói no hay ốm đau khỏe mạnh như thế nào, trong năm qua mưa thuận gió hòa, hay nắng hạn mưa lũ, cũng thông qua cây nêu này các Huynh cai quản dân cầu xin Plinh Huynh cho dân tình được khỏe mạnh no ấm, lúa đầy kho, heo gà đầy sân, trâu bò đông đúc.Trong các cuộc lễ ăn trâu, ngoài thịt trâu ra dân làng còn mang đến nhiều loại thức ăn khác trong đó có cả thịt heo, thịt gà, thịt nai, cú, thịt tê tê, thằn lằn...
Trong các cuộc lễ ăn trâu đó, các Huynh cũng cùng vui chơi ăn uống với dân làng.
Cho đến một năm, vào dịp cúng Yeeng mừng năm mới, dân làng vui vẻ mở hội ăn uống linh đình, hát hò từ đêm này sang đêm khác, các Huynh cũng cùng vui với dân đến ngày thứ 7 họ quên mất điều kiêng kỵ của Plinh Huynh là không được ăn thịt các con vật mà vợ họ trước đây, giờ đang lag Huynh chăn dắt các loài đó. Các Huynh đi vòng quanh cây nêu uống rượu và ăn hết các loại thức ăn mà dân làng mang đến, trong đó có thịt heo, thịt nai, thịt thằn lằn, cá. Chỉ riêng Huynh Pô là vẫn nhớ lời Plinh Huynh không ăn thịt thằn lằn.
Từ trên cao thông qua cây nêu Plinh Huynh nhìn xuống thấy các vị Huynh con của mình vi phạm luật cấm, ông đùng đùng nổi giận và Plinh Huynh trừng phạt. Tự nhiên giông tố nổi lên đùng đùng, sáu cột lửa phụt lên mù mịt, đất đá đều biến thành nước chảy tràn khắp vùng nhà cửa tài sảm và con người cũng như các Huynh đều bị chìm trong hố lửa.
Riêng làng của Huynh Pô chỉ có một cột lửa nhỏ ở giữa làng vì theo Plinh Huynh bảo rằng : Tuy Huynh Pô không ăn con vật thiêng của làng nhưng Huynh Pô không biết nhắc nhở các Huynh là anh của mình nên phải chọn một trong hai hình phạt hoặc là dân làng phải chết hoặc Huynh Pô phải chết. Vì quá thương xót dân làng nên Huynh Pô tự nhận cái chết về mình và Huynh mang theo một đứa nhỏ để hầu hạ.
Các cột lửa từ từ tắt sau khi đã nuốt vào lòng đất toàn bộ con người và tài sản của 6 làng và 6 miệng cột lửa đó biến thành 6 cái hố.Dân làng Huynh Pô sống sót chuyển đi nơi khác và tại miệng hố lửa làng này cũng biến thành một hồ nhỏ.
Người M’Nâm gọi hồ là "Toong", thác là "cơi". Hiện nay tại vùng T’Măng Deeng vẫn còn lại 7 hồ, người dân gọi tên hồ theo tên các vị huynh là Toong Đam, Toong Rpông, Toong Zơ Ri, Toong Ziu, Toong Săng, Toong Ly Lung và Toong Pô. Bên cạnh 7 hồ nước kỳ ảo, Yèeng còn để lại cho vùng T’Măng Deeng nhiều thác trong đó có 2 con thác kỳ vĩ đó là: thác Đăkke và thác Pa Sỉ.
Ban Tuyên giáo - Thường Trực Huyện ủy huyện Kon Plông
(Theo Đặc san Kon Plông những chặng đường phát triển)
Nhận xét&Bình luận